True/False

10550995_945736978786483_3412232701517593911_n

Trong giờ học Tiếng Anh của các học sinh ‘cá biệt’,
Thay vì nhốt tụi nhỏ trong phòng, cho tụi nó nằm ngủ, chơi Ipad, mình phá luật của trường, dắt tụi nó đi đá banh, đi bơi.
Thay vì càu nhàu với trường là tụi nó sử dụng điện thoại vô tội vạ, mình thỏa thuận với tụi nó là sẽ làm một số bài tập online trên điện thoại rồi sau đó chơi gì thì chơi.
Thay vì cứ mỗi đầu giờ la hét bắt tụi nó tìm ra cuốn sách, cuốn vở để bắt đầu bài học, mình cẩn thận photo từng bài rồi phát cho tụi nhỏ làm.
Thay vì dạy từng trang theo sách như sự chỉ đạo, mình tự thiết kế bài tập và bài học cho phù hợp với sở thích của tụi nhỏ.
Thay vì chỉ dạy văn phạm và kỹ năng đọc như sự chỉ đạo, mình dạy luôn cho tụi nhỏ kỹ năng nói và viết, vật vã kèm từng em một.
Thay vì ngồi trách móc tụi nó, mình cẩn thận ngồi lắng nghe tụi nó, cũng chẳng thay đổi được gì, chỉ để biết rằng chúng nó cũng có lý do để ương bướng.
Mình làm tất cả, chỉ để dạy một chút gì đó cho những lớp ‘cá biệt’ mà các giáo viên khác không tiếc lời trách mắng.
Lãnh đạo mới ‘nghe đồn’ mình quản lý lớp hay, họ muốn tìm hiểu thực hư thế nào.
Họ cẩn thận theo sát mình. Họ thấy mình chơi đá banh với học trò trong giờ học Tiếng Anh nhưng lại nói tiếng Việt loạn xạ. ‘Thầy đó có dạy gì đâu’, họ bảo.
Họ cẩn thận theo sát mình. Lâu lâu họ ghé mắt vào lớp, họ thấy học trò thoải mái sử dụng điện thoại trong lớp hay đang nằm ngủ vạ vật. ‘Thầy đó đúng là không dạy gì hết’, họ kết luận.
Đúng là mình chẳng dạy tụi nó được cái gì. Tụi nhỏ dạy mình thì đúng hơn, tụi nó dạy mình không được đổ lỗi cho cái gọi là học trò ‘cá biệt’, tụi nó dạy cho mình không được bỏ cuộc khi phải gặp những thứ gọi là học trò ‘cá biệt’.
Cám ơn lãnh đạo năm nay đã không tin tưởng mình, không giao cho mình những lớp ‘cá biệt’ đó nữa, vì mình cũng sẽ chẳng dạy tụi nó được cái gì hết. Chấm hết rồi.
(Viết cho năm thứ 7, hứa sẽ không làm liên lụy những người đã đặt niềm tin ở mình nữa)

[Book Review] Deep Practice

THE TALENT CODE REVIEW

Review: Coyle, Daniel (2006). The Talent Code. Chapter 1: The Sweet Spot

MYELIN

The much heated debate of nurture vs. nature has been well-documented in numerous publications. On one hand, those who argue for the innate factor of champions emphasize the importance of genes and how to identify those genes should be the focus of empirical research. On the other hand, a majority of educational circles would advocate the importance of training and the environment in which a champion is raised.  Daniel Coyle in the first chapter of the book The Talent Code provides a strong case for the latter viewpoint.

In the first chapter, the author himself travels to different places around the world which is figuratively referred to “Chicken-wire Harvards”. Obviously, those places should have been well-known for a specific kind of outstanding achivements, for example, to understand what makes a soccer superstar, he went to Brazil-the country of five-time World Cup Champions to learn how Brazilian soccer players practice football sessions. Similarly, to tennis courts in Moscow, to music academy in New York, etc. There he found out the method to build winners.

 The author builds up his hyphothesis by examining two case studies. One is Edwin Link’s method of training pilots which was adopted when Air Corps pilot selection and training procedure failed. Edwin Link’s model was superior in the sense that pilots-to-be have much more practice and much more opportunites to make mistakes during training. And Edwin Link made it! The other case is from Brazil. He realized how Brazilian excelled at soccer by observing them play futsal. Players, forming teams of six, had to compete against others in closed spaces so that they would practice the ability to well-controll the ball. Later a soccer coach called Simon Clifford learned the technique and opened a school in England. It seemes that Simon Clifford’s replica has begun to reap some success.

 “Sweet spot” chapter is well-supported. The success-proven case studies makes the narratives more convincing and also based on scientific study based on Robert Bjork, the chair of psychology at UCLA who claimed that “Things that appear to be obstacles turn out to be desirable in the long haul…One real encounter, even for a few seconds, is far more useful than several hundred obdervations.”  Robert Bjork defines “sweet spot” as “It’s all about finding the sweet spot. There’s an optimal gap between what you know and what you’re trying to do. When you find that sweet spot, learning takes off.” (p.19)

So, that’s it. All you need to know is deep practice regardless of your abilities or disadvantaged traits. “Deep practice is built on a paradox: struggling in certain targeted ways – operating at the edges of your ability, where you make mistakes – make you smarter. Or to put it a slighly different way, experiences where you’re forced to slow down, make errors, and correct them…” (p.18) “Deep practice” is also valuable in the sense that it open doors to educators, including parents, teachers, decision-makers, to have a firm belief in appropriate practice at home and school and in the impact education has on a child’s education. Daniel Boyle’s ideas are later resonated in the book “Outliers” by Malcom Gladwell. To be more exact, Gladwell can identify the number of hours required to be an outlier – a person who conducts amazing deeds. Here is the magic number: 10.000 hours or ten years of severe training.

Skeptics might argue that such training could be weird in some exent and it would take a whole lots of courage to refute the traditional educational methods. It might look ridiculous to an outsider indeed and I woul also express my doubt. I haven’t had a chance to read the whole book to really figure out how to apply such theories into practice.

All in all, I still find the book intriguing and  one would not deny the positive case for the role of environment factor. What I learn is that to train a champion is to treat them like a champions-to-be and put them under situations where they have to struggle with other champions-to-be. “Greatness isn’t born. It’s grown.”

(Illustrations are extracted from http://cgfewston.me/2014/05/19/the-talent-code-2009-by-daniel-coyle/) 

calvin

Dạy Tiếng Anh ở trường ‘quốc tế’

Rembrandt_Christ_in_the_Storm_on_the_Lake_of_Galilee

Cho những đồng nghiệp mới của mình ở các trường ‘quốc tế’
1. Lý do trường ‘quốc tế’ tuyển giáo viên mới: chủ yếu để dạy những lớp ‘xương’ nhất, thường là trình độ học sinh cực yếu và ‘cá biệt’. Còn những lớp học sinh trình độ Tiếng Anh tốt và học sinh ngoan đã có những giáo viên lâu năm nắm giữ (như mình :)). Những lớp ‘đặc biệt’ đó có tỉ lệ giáo viên bỏ dạy (chứ không phải tỉ lệ học sinh bỏ học) rất cao vì không chịu áp lực căng thẳng nên trường sẽ luôn luôn chào mừng những giáo viên ‘cứng tay’ thực sự, những người sinh ra để dạy học trò chứ không phải sinh ra để lên lớp ngồi ăn bát vàng. Xin nhắc lại, giáo viên sinh ra để dạy sao cho học trò học chứ không phải học trò chịu học rồi mình mới chịu dạy. Con gà, trong trường hợp này, có trước quả trứng!
2. Hai tuần đầu tiên của năm học là quan trọng nhất để thiết lập trật tự và kỷ luật lớp học. Trong hai tuần ấy bạn tuyệt đối không được cười nụ, tuyệt đối không được kể chuyện hài, tuyệt đối không được nhân nhượng khi học trò vi phạm nội qui. Ví dụ, bạn nói ‘Luật của tôi là ai vào lớp trễ sau tôi thì sẽ phải gặp giám thị xin giấy vào lớp.’ Mình chắc chắn với bạn, ngay tiết sau sẽ có học sinh vào trễ để thử sự cứng cỏi của giáo viên. Bạn nói ‘Tôi tha cho em lần này’ là bạn đã thua. Lập tức bạn phải ‘xử lý’ ngay! Xử một em để bêu đầu. Bạn phải gởi em đó xuống giám thị ngay lập tức để chứng minh là ‘Tôi nói là tôi làm’.
3. Bạn vừa phải nghiêm khắc trong 2 tuần đầu nhưng cũng phải tổ chức những hoạt động thú vị để học sinh thích giờ học của bạn. Nếu bạn nghiêm khắc nhưng bài giảng của bạn quá chán thì sẽ có tác dụng ngược: học sinh sẽ lập tức kiện bạn lên ban giám hiệu và bạn sẽ phải ‘ra đi’ ngay lập tức. Như vậy, bạn phải vừa ‘cứng’, vừa ‘nhộn’. Quá khó phải không?
4. ‘Tôi nói là tôi làm’ phải luôn được duy trì trong cả năm học. Tiết cuối kết thúc lúc 5h, lớp học ồn quá mình nói các em không học nghiêm túc tôi bắt lại chép phạt khi nào xong thì về. Và mình ở lại đợi tới 5h30 cho đến khi chép bài xong. Mãi sau này có đồng nghiệp mình kể là học trò mình sợ mình vì ‘Con nể thầy lắm vì thầy nói là thầy làm. Những giáo viên khác cũng bắt tụi con chép phạt nhưng tới 5h cho về hết nên tụi con không sợ’.
5. Chép phạt cũng phải sáng tạo: mỗi khi học trò vi phạm mình thường bắt học trò chép phạt những danh ngôn nổi tiếng thế giới. Chép xong mình bắt học trò đọc lại cho mình nghe, đọc không được mình bắt chép lại. Mình cũng kiểm tra từng chữ, sai chính tả một chữ mình bắt chép gấp đôi.
6. Có những học sinh mình tưởng rất rất hư nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì lỗi không phải ở các em: lỗi thực sự ở quý phụ huynh, những gia đình đổ vỡ, những người bố, người mẹ không dạy con từ nhỏ và thiếu tôn trọng giáo viên. Vậy nên nếu bạn muốn gặp phụ huynh thì mình khuyên là hãy gặp phụ huynh của phụ huynh, tức là ông bà của tụi nhỏ để than phiền về bố mẹ của tụi nó. Đau đời nhỉ!
7. Học trò nói tục, nói chuyện sex thì xử lý thế nào? Cái này tùy tính cách giáo viên. Mình thì khá rộng rãi với học trò trong chuyện này vì mình nghĩ mình không phải là thánh để có thể quán xuyến hết tất cả, để có thể biến những học trò đặc biệt thành một người ngoan ngoãn, tụi nó chịu nói chuyện với mình là may rồi. Có lần học sinh lớp 11 dùng từ ‘Mặt lồn’ để miêu tả một bạn ở khối. Mình bảo em ‘Lấy giấy bút vẽ hình người với cái mặt lồn cho thầy xem!’ Tụi nhỏ mặt ngớ ra! Còn những lúc tụi nhỏ nói chuyện sex thì mình tranh thủ lắng nghe và cũng phát hiện ra là nhiều em nam sinh rất hay đi mát xa Hỏi tụi nhỏ sao đi mát xa hoài vậy, có em bảo ‘Đi để giải quyết sinh lý thầy ơi chứ thủ dâm hoài còn nguy hiểm hơn’
8. Cẩn thận khi phạt học trò: có những phụ huynh không đồng ý khi mình phạt học trò chép phạt và kể cả phạt đứng. Họ lý luận là mình phải dùng ngôn ngữ và tình yêu thương để cảm thông và tha thứ cho lỗi lầm của học trò … blah blah blah. Thực ra hiện giờ mình cũng đang bí các hình phạt cho học trò ngoài chuyện chép phạt, phạt đứng và cấm túc. Ai có cao kiến gì không?
9. Ngoài những lớp cá biệt chỉ chiếm một phần nhỏ, trường ‘quốc tế’ có rất nhiều lớp mà ở đó học sinh cực kì ngoan và trình độ Tiếng Anh không khác gì người bản xứ. Nhiệm vụ của mình khi đó là phải dạy những thứ không có trong sách vở. Cho tụi nhỏ làm dự án, làm TED.com, làm phim…Dạy những lớp này vừa mệt vừa sướng!

Hết hè, đi dạy lại đuối quá, sóng gió vẫn ở phía trước

[Report] Teaching Vocabulary: Practice and Theory, a webinar by Peter Watkins

This is a truly eye-opening webinar, providing very informative and systematic analysis of theories and practices relating to teaching vocabulary. And the presenter did it in less than 45 minutes!

Key points:

1.” Practising is one thing, teaching is another”

  • implicit vs explicit
  • working out from context
  • working out from morphology
  • paraphrase: learner explanation, teacher explanation, translation, dictionaries, glossaries and word lists.

2. “Learning vocabulary is relatively easy” No, it never is!

“The fact is that while without grammar every little can be conveyed, without vocabulary nothing can be conveyed.” (Wilkins, 1972, p.111)

  • Audioligualism: vocabulary plays a very small part, only for manipulation of grammar structures.
  • Grammar Translation: Infrequent, literary texts are highlighted.
  • Communicative Language Teaching: vocabulary becomes more prominent.
  • Lexical Approach: more prominent but do not take the role of grammar yet.

WHAT LEARNERS NEED TO KNOW: FCGRS

  • form and meaning (denotation and connotation)
  • collocations
  • grammar (We will meet ourselves at 8*)
  • relationships with other words
  • style (father, dad, old man)

3.”I teach vocabulary before texts” Not necessarily so. Better techniques:

  • adjusts level of text by supporting bottom-up processing.
  • see words in context

If we really have to, we should ask:

  • “Are the words frequent and useful?”
  • “How will the words be recycled?”

4. “There’s so much vocabulary to learn”

  • A need for Independent Learning
  • Quality of learning, as well as quantity, is important.

5. “Recycling vocabulary is important.” and “make it fun” How?

  • “Narrow Reading: students read different texts on a same topic to see words in different contexts.
  • Depth of cognitive processing
  • Depth of affective processing

SUGGESTED ACTIVITIES:

Word Search

Making Sentences

2

Noughts and Crosses (Tic Tac Toe)

6 5

Activities with a Word Bag (cut-out strips of paper with words learned from each lesson put in a bag)

  • Narrative Writing: take five or six words at random from the bag, check the meanings and ask learners to use these words in a short story that they write with a partner.
  • Pairwork: Pick three words from the bag and describe words to partners.
  • Word Family: give learners some nouns from the bag. They must come up with adjectives/verbs/adverbs.
  • What to put in the bag? Ask learners to choose the words after each lesson.
  • Review: at the beginning or end of lessons, take five/six words from the bag and elicit meanings.

4

Finally, we also should encourage learners to be independent by asking to develop their own strategies, which can be cognitive, metacognitive, social and affective (Ortega, 2009, p.214)