Viết nhật ký trên sách

‘Mừng

-Rước lễ lần đầu

-sinh nhật “9”

                                corpus christi 94

                                chí Thành’

IMG_20140725_213737

Thói quen mua sách và ghi linh tinh lên trang bìa để đánh dấu một sự kiện quan trọng trong cuộc đời mình, một cách vô thức, có lẽ bắt đầu từ quà tặng nhân dịp rước lễ lần đầu (một nghi thức của những người theo đạo Công Giáo) của ba đỡ đầu mình đúng 20 năm trước. Mình không phải là người nghiện sách, có rất nhiều cuốn mua về chỉ để đó, bụi phủ đầy trên gáy, mỗi lần lấy xuống kệ phải thật khéo để tay không bám bụi. Có những cuốn mình thuộc làu tên tác giả và tác phẩm, nắm sơ sơ nội dung chứ thực sự chỉ đọc được một hai chương đầu rồi thôi. Mình nghiện đọc báo hơn, đọc ngấu nghiến, có lẽ vì những bài báo được viết súc tích nhưng bao gồm đủ các bi kịch và thể loại nước mắt. Cũng có thể vì vậy nên sách là một thứ được tôn thờ, mình sợ làm gáy bung ra khi đọc kĩ, mình muốn cuốn sách luôn còn trinh nguyên vì mình biết trước khi mình mua sách mình đã nghiên cứu rất kỹ độ ‘hot’ và được giới phê bình đánh giá cao.

Nhà ở quê, hồi mới lên Sài Gòn ở những ngày đầu tiên để thi đại học, ngay sau khi làm xong môn cuối cùng của kì thi đại học, mình lập tức mở bàn đồ, đạp xe ngay ra đường Trần Huy Liệu, khu sách cũ nổi tiếng của Sài Gòn được bà chủ nhà trọ ‘chỉ điểm’, rồi mê mẩn ở đó hàng giờ. Đến khi đậu đại học vẫn giữ thói quen đó, mỗi lần đi sách cũ về là đằng sau yên xe cả đống sách báo cũ. Bạn bè mình mỗi lần chuyển nhà chỉ có nồi niêu xong chảo, riêng mình thêm mấy thùng, mấy bao 50 sách cũ, chở mệt bở hơi tai những không dám để sót cuốn nào.

Mình giống một nhà sưu tập sách hơn là một người đọc sách, thích mua những cuốn mà vốn là quà tặng dành cho ai đó. Trong sách có chuyện đời được kể hay hư cấu thành truyện, trong lời đề tặng có chuyện đời của những người đọc sách, như cuốn Catch 22 với lời đề tặng trong mặt sau của bìa:

‘Dear Leonid,

hope this brings you miles of smiles…and backs to me,

love,’

(Anh Leonid,

hi vọng cuốn sách này sẽ mang lại cho anh nhiều tiếng cười…và mang anh quay về với em,

yêu anh.)

catch22

Đến khi quen người-mà-bây-giờ-là-mẹ-Mon,từ lúc còn gọi nhau bằng tên chứ không gọi anh anh em em như mọi nhà vì cùng xuất thân là bạn học đại học, quà tặng cho bạn ấy cũng chủ yếu là sách. Kỷ niệm đúng 1 năm quen nhau, mình tặng bạn cuốn hồi kí của Helen Keller:

T đã định mua một món nào đó ‘rẻ’ hơn (nhìn trang cuối thì biết!) nhưng đôi khi, giá trị cũng tức là giá bìa. Không phải hoa, không phải sô cô la, không phải con nơ cái bướm…A biography of Helen Keller. Cùng đọc nhá, để thấy mình gần nhau hơn. 24h 19/10/2007. For M, with lots of #ox

IMG_20140725_213811

Cứ như vậy, mỗi một sự kiện quan trọng xảy đến lại tranh thủ mua một cuốn (hay một mớ) sách để đánh dấu. Nụ hôn đầu tiên trong cuộc đời, mua cuốn Con đường triết học của Nguyễn Ngọc Dũng, viết linh tinh là ‘Tình nhân mà rảnh rỗi thì thể nào cũng có mây mưa giông bão’. Lần đi du lịch xuyên việt với bạn, cãi nhau nảy lửa ở Nha Trang, tìm được cuốn To kill a mockingbird (Tựa Tiếng Việt là Giết con chim nhại), viết vội chỉ hai chữ ‘M giận’.

Cứ thế, từ xưng tên thành xưng em, những lời yêu thương nhiều hơn, sách mua cũng nhiều hơn nhưng lời đề tặng thì ít chữ đi và nhiều biểu tượng đôi lứa hơn, như vẽ thêm hình đôi chim, đôi bướm, túp lều nho nhỏ trên triền núi.

Cho đến gần ngày cưới, tìm được Men from Mars, Women from Venus (Đàn ông sao Hỏa, Đàn bà Sao Kim), để chuẩn bị tâm thế xây dựng một gia đình, và cũng để làm đạo cụ chụp hình kỷ niệm.

278802_10150696083835401_4946063_o

Cái thói quen ấy tạm dừng khi bắt đầu sử dụng máy đọc sách Kindle. Hoàn toàn không tốn một đồng xu mua sách vì toàn tải sách lậu đọc, biết sao được, giá sách Tiếng Anh cao hơn nhiều so với đồng lương giáo viên Tiếng Anh người Việt!

Rồi có thêm Mon, hai người bạn ngày xưa thành ba Mon và mẹ Mon…Đầu tắt mặt tối suốt vì phải lo cái ăn cái ngủ cho Mon, việc đọc sách không khác gì thú vui xa xỉ nhưng cũng ráng tìm hiểu về những sách dạy con tốt nhất vì rồi đặt mua sách online. Mẹ Mon nằng nặc đòi mua cuốn Người mẹ tốt hơn người thầy tốt mặc dù ba Mon thấy có vẻ gì đó không ổn từ cái tựa. Ba viết lời đề tặng cho mẹ Mon ‘Ba Mon là giáo viên. Người mẹ tốt hơn người thầy tốt, vậy là từ nay ba Mon nhẹ gánh nhá, nhường hết việc chăm Mon cho mẹ Mon.’

Bất ngờ mẹ Mon được cử đi công tác ở Thái Lan một tuần. Ba Mon và Mon đu đeo theo mẹ, ban ngày ở khách sạn suốt vì Mon còn bận ăn ngủ, không đi đâu chơi được, vậy mà cũng ráng vác Mon đi đến cái nhà sách cũ to nhất Thái Lan tên gọi là Dasa, được đặt theo pháp danh của một nhà sư nổi tiếng ở Thái Lan, có nghĩa là ‘Đầy tớ’. Trước đó ba Mon mất mấy ngày để search Google, không phải để tìm những chỗ vui chơi hay mua đồ ở Thái, việc đó mẹ Mon lo, mà tra cứu kho dữ liệu của nhà sách Dasa để đặt mua những cuốn hay nhất đã đọc hay tải (lậu) trên Kindle trước đó, như một cách ủng hộ tác giả một cách hợp pháp. Đến nơi Mon khóc ầm ĩ đòi về, nhưng cũng kịp đưa tựa cho người ta lựa giùm rồi cắp Mon về nhà. Ngày cuối cùng ở Thái, thèm sách quá lại rủ mẹ Mon và Mon đi nhà sách Dasa nữa, mua hết một đống tiền nữa. Chỉ tiếc là trong những cuốn sách cũ tìm mua không có cuốn nào đã được viết lời đề tặng cho ai đó. Hình như người ta không còn thời gian để viết tặng cho ai đó trong thời kỹ thuật số.

10492356_10154356937195401_8989486496080392380_n

1907786_10154356935625401_3191248561173300969_n

Trước khi trả phòng khách sạn, cũng ráng xin khách sạn hai cuốn sách trong phòng để mang về Việt Nam làm kỷ niệm: một cuốn Kinh Thánh, một cuốn Kinh Phật Theravada.

Người ta bảo đừng đi siêu thị mua sắm khi bụng đói meo vì người mua sẽ không kiểm soát được những thứ họ sẽ mua. Lời khuyên ấy chớ có sai, ngay cả khi đi nhà sách. Cả hai năm trời mê mẩn với cái Kindle, đùng một cái thói quen lùng sục sách in lại quay trở về sau chuyến đi Thái Lan, thành cơn nghiện luôn. Về Việt Nam chân chưa ráo hoảnh lại tiếp tục lùng sục các chi nhánh của nhà sách Fahasa và Phương Nam, mua hết thêm một đống tiền nữa những tác phẩm nước ngoài kinh điển mà thời sinh viên không có tiền mua, phải sử dụng sách photo bất hợp pháp, khiến những kỷ niệm học hành thâu đêm thời sinh viên lại ùa về…

Như một cách trân trọng những người viết sách, thực ra là không khác chi người lao động phải vắt kiệt chất xám trên trang giấy…

Sài Gòn Tháng Bảy 2014

First TESOLTalks Ho Chi Minh City

A report on TESOL Talks (first session), organized by HCMC TESOL Association, Australian Centre for Education and Training, and RMIT University Vietnam

For a link to the event brochure, click here: http://bit.ly/1nvX6Qo

Part 1: SOWING THE SEEDS FOR DEEPER LEARNING THROUGH EXPERIENCE AND GAMIFICATION (Workshop)

Presenters: Anna Mendoza (English Language Teacher, Australian Centre for Education and Training) and Travis Henry (English Language Educator, RMIT Vietnam)

Photo 1: Workshop Presenters

image(2)

What is Gamification? The presenters borrowed a definition from Sheldon (2012,p.75): ‘Simply put, Gamification is the application of game mechanics to non-game activities. Its underlying idea is to increase engagement.’ We can see that game mechanics would be the controlling concept in the definition. Analyzing principles that makes ‘Angry Birds’ a very popular mobile game, they listed their main characteristics. Firstly, games often maintain a reasonable progression of difficulty so that every player can have a sense of achievement in the first few rounds. Secondly, games provide players opportunities to undertake repetition; they will try until they succeed, learning from mistakes. And most enjoyably, games engage all ages because they involve competition – self and peer. Anna and Travis then analyzed Briggs and Tang (2011, p.6)’s taxonomy of engagement: Memorizing à Note taking à Explaining à Relating à Applying à Theorizing, which would then be illustrated through these activities:

  1. Activities for describing and explaining

a. Pictionary: there are two main stages. First, a volunteer would draw an illustration of a given word on the board which would be guessed by teammates. Then the team must brainstorm as many words as they can relating to the drawing.

b. Pelmanism: matching words to pictures.
c. 10-second idea: in 10 seconds, students draw pictures to illustrate a concept. Others the guess the concept and further provide collocations or more lexical sets.

Photo 2: 10-second idea

image(3)
2. Activities for Relating
a. Picture-Word search: They first must to figure out what words to search for before searching them on a traditional letter grid. A nice twist to the traditional word search activity!

Photo 3: Picture-word Search

image(4)

b. Vocabulary soup: pick words/concepts from a container and describe and explain. The reason it is called ‘Soup’: just a catchy name for the activity! 
3. Activity for Applying and Theorizing: Investment Presentation
Personally I think this activity is a truly gamified activity. The outcome of lesson is a presentation about investment. Instead of reading and writing from traditional materials, they would go to marketwatch.com, sign up for an account, join a group set by the teacher and live the life of a broker/trader. After a given time, they would give a presentation about that experience, collecting data from their investment losses and gains. A must-try activity!

Part 2: Panel Discussion on Student Engagement.

We were pleased to have these distinguished guests:

Heather Swenddal (English Language Educator, RMIT Vietnam, Moderator)

Dr. Nguyen Ngoc Vu (Dean of English Department, HCMC University of Education)

Paul Williams (English Language Educator, RMIT Vietnam)

Jason Bednarz (Director of Studies, Australian Centre for Education and Training)

Nicholas Maxwell (English Language Educator, RMIT Vietnam)

Dr. Tran Thi Minh Phuong (Lecturer – Faculty of English Linguistics and Literature USSH)

Photo 4: Panel guests

jpg (1)

We experienced a power cut so our Moderator’s pre-prepared slides were omitted, making it somehow harder to keep track of the discussion rationales, but the discussion was still rigorous and maintained a high level of ‘engagement’. Heather introduced the topic by narrating her own personal story of a quiet student who turned out to be a total different personality after contacting her on Facebook, telling his life challenges leading to his problems in the classroom.

  1. Definition: different perspectives were discussed on a definition of student engagement, whether it is a state or something that leads to learner autonomy from the benefits and purposes of using games in the classroom. Dr. Vu treated it as a verb, ‘engage’, elaborating that engaging students mean using engaging content and technology. It should also involve affective factors relating to Heather’s narrative.
  2. What kinds do we value?

This part provoked a much heated debate. The panel agreed on the importance of standardized testing (backwash) in Vietnam’s context, citing the example of IELTS and other high-stake tests. Paul advocated that ‘We can’t change assessment. IELTS is IELTS’ but then further clarified how his student thanked him for things beyond exam skills. External and internal motivation seems a perpetually controversial issue.

  1. Whose responsibility is it? How can we develop learner autonomy?

No final decision reached but it appears that students do have a role to play in the engagement process, that they have to ‘experience themselves’ (Nick). Paul then called for an adaptation in curriculum written for Vietnamese learners thus highlighted the importance of personalization. Dr. Vu again stressed the power of technology as well as students’ self-regulation and choices while Dr. Phuong directed the focus on teacher’ design tasks. Nick then argued that sometimes teachers had to make negotiations, not to give students’ too much freedom, asking ‘What if they suggested unprofessional things?’. Heather concluded by saying that we had to balance the ingredients, channeling students’ future career, being ‘a scholar or businessman’

 

  1. How can we build students engagement?

Heather listed different levels where changes should be implemented: institutions, circular, lesson planning and lesson delivery. On the institution level, Paul advised deans to take teachers’ feedback seriously. Jason said that as teachers we should be salesmen to convince our deans or heads to trust our implementation. As far as lesson planning and delivery was concerned, Dr. Vu reflected on how he treated students as digital natives, making more use of technology and project-based learning which was useful both for themselves and the greater good of our society. Ms. Phuong called for a clearer outcome of each lesson.

Photo 5: Great contribution from the audience

image(5)

Key Takeaway from TESOL Talks:

1. Design classroom tasks from the view of Gamification: Increasing Difficulty, Task Repetition and Competition.

2. Try marketwatch.com for Business English classes.

3. Student engagement must be a multi-way interaction: top-down (curriculum) and bottom-up (students themselves).

Recommendations:

1. Not many teachers have heard of this meaningful event so many seats were unoccupied. We should inform this to a larger demographic teaching community: Facebook groups, TESOL HCM website and spreading the news to colleagues.

2. Let’s hope the next session of TESOL Talks would last at least a full day J

Mai Minh Tiến

 

 

Why I will not quit teaching English

AO-Show-Saigon

Written by Phuong Quoc Tran (Grade 9.5_VAS Ba Thang Hai_School Year 2013-2014) in October 2013, I wish I could have done better at the end of the school year when nothing amazing happened. I will frame and put these nice words on my home wall to remind my duty as a motivator, not a mere educator.

“Than you Mr. Tien Minh Mai, for introducing us to the achievements we can reach, the dreams we can grasp, and also the small things in front of us that we haven’t perceived. You give us great inspiring assignments, pushing us to do what we thought were impossible. You turn a normal speech in class into a TED talk, you spark our self-esteem, transmitting the message to each of us, almost like shouting at us that we can be someone important, someone who will one day stand on that very stage, giving other people a speech that will somehow change their lives. And the amazing thing is, you do that in just one small insignificant classroom…”

“You’re as beautiful as the day I lost you.” [Film Review: Train your dragon 2]

How-To-Train-Your-Dragon-2-Film-Picture-8

“You’re as beautiful as the day I lost you.” What an unexpected reaction from Stoick the Vast!

Toothless is still there, the Night Fury breeding with the most powerful laser-like shots that contest all evils. Hiccup now has grown up to become a teenager – the Son Dragon Master who is mapping the world to truly understand what his heart is looking for. Stoick, now The Father Dragon Master who fails to convince his son to be a great chieftain. Dragon 2 introduces two strong appearances: The Dark Dragon Master who never ceases to enslave all dragons for his kingdom ruling and a secret Masked Dragon Master who is able to win any dragons’ heart and mind.

Dragon 2 goes beyond the basic meaning of a training camp for dragon masters but pictures its own complex sky that can be compared to Avatar’s Pandora to some extent. It is a weaving of all common human themes and depicts a distinctive world of each main character.

The most memorable scene is the lovely dance involving the Father Master and the Masked Master. Soundtrack, listen carefully for the whistle. Touching, right?

Maybe I’ll have this sung on my wedding anniversary as suggested by one Youtuber 🙂

(Sidenote: Erit’s voice acting performed by Kit Harrington – John Snow in Game of Thrones. I recognized his accent immediately, an Eastern European?)

Score: 9/10

IATEFL Online Award Winning Entry (awarded by The Consultants-E 2014)

 

Click here –> What is the consultants-e online award?

My Winning Entry:

Title: Teaching with mobile devices: choices and challenges

Speaker: Nicky Hockly. Link: http://iatefl.britishcouncil.org/2014/sessions/2014-04-02/teaching-mobile-devices-choices-and-challenges

 

Before watching to talk, I thought mobile learning simply means using a dictionary app to look up meanings and examples of new words.  There is much more than that.

Ms. Hockly reminded me that mobile learning should not limit itself to the two obvious facts that devices used are mobile and learners are mobile, however, the more important concern is how to create activities that cater to the real learning experience of mobility. In other words, we should create activities that engage students as if they were living their own life, for example, taking photos, locating a marked spot, and using QR code.

Of course apps are indispensible but what makes mobile learning more rewarding is the implementation plan. Lessons should be structured and planned as well as any other traditional blackboard-and-chalk classrooms. Take, for instance, the “Themed Photo” activity involves at least four key stages, namely, selecting the course book theme, setting up time limit and giving instructions, justifying choices and ending with a class discussion. All of these steps would ensure that the activity would grant students’ ownership, making them be more responsible for their learning.

In conclusion, although the talk would be more complete if Ms. Hockly elaborated more on the assessment integration which would provide me with testing choices to truly understand the usefulness and reliability of a mobile device-based activity, it does widen my perspectives on mobile learning and how it should be carried out in the classroom.

 

Title: Upgrade! Demand high to bring a grammar lesson alive.

Speaker:  Jim Scrivener. Link: http://iatefl.britishcouncil.org/2014/sessions/2014-04-03/upgrade-demand-high-bring-grammar-lesson-alive

As I have several years of experience teaching grammar-based syllabus to teenagers, the talk does shed different lights on my current practice of delivering a grammatical lesson in the classroom.

To begin with, I tended to overuse “Good”, “Perfect”, “Excellent” when giving feedback, and sadly, according to Jim, I accidentally stopped other rooms for learners’ improvement. Instead, I should indicate what can be upgraded e.g. rhythm or intonation; I could ask a question; I could model language myself so that students could notice the problems. Most importantly, each upgrade taken should be achievable.

The most interesting part is how Jim maximizes the use of exercise in course books with the adoption of 3XP, which stands for THREE TIMES PRACTICE. The first time is my usual routine: students do it and then we check it. Again, I will normally end my lesson here. I shouldn’t have! There should be follow-up practice: in step 2, they will cover the words and say the sentences to their partner while in step 3 another student has to practice saying the sentences more naturally.

“Upgrade Feedback” and “3XP” techniques will appear in my coming lessons. What I learn the most is there is always something that teachers can do to break their habits and bring new lives to old, boring lessons.

Title: A guide to pseudo-science in English language teaching

Speaker: Russell Mayne. Link: http://iatefl.britishcouncil.org/2014/sessions/2014-04-02/guide-pseudo-science-english-language-teaching

I have always expected my students to embrace critical thinking skills. Russel Mayne’s talk on aspects of English Language Teaching that have little or no scientific basis reveals my own lack of critical thinking skills since I naively follow those “juicy trends”

When Mr. Mayne opposed pseudoscience by quoting Gardner, the father of Multiple Intelligences Theory: “In one video after another I saw youngsters crawling across the floor, with the superimposed legend ‘Bodily-Kinaesthetic Intelligence’. I said, ‘That is not bodily-kinaesthetic intelligence that is kids crawling across the floor. And I feel like crawling up the wall.’ I thought Gardner was watching a video of my own class. Yes, there were times when I assumed I was doing a great job of applying the Multiple Intelligences; now I realize it was entertaining, not teaching.

At the second part of the talk, Russel introduces a“Detection Kit” – a list of questions – to help teachers identify the falsehood of new trends, which will be very useful not just for my classroom practice but also for the way I conduct action research in the future.

Scholarship Gallery Link (Tien Mai)

 

Cuốn theo chiều nào?

10268474_10154085575280401_40150711268634626_n

Dân Việt, Dân Tàu, Dân Mỹ hay bất cứ các dân tộc nào trên thế giới đều như nhau cả: thích ngủ nướng, đọc lá cải, viết linh tinh trên Facebook, yêu gia đình, yêu tổ quốc, đi nhà thờ (nếu có đạo),cà phê chém gió cuối tuần, chủ yếu là tham sân si .
Bạn bè mình có người Hoa, học trò mình có người Hoa, đồng nghiệp mình có người Mỹ và người Mỹ gốc Hoa. Ai cũng dễ thương.
Vì họ không có quyền lực.
Mình không thích chính phủ Việt Nam. Trước vụ giàn khoan ầm ĩ, chính phủ Việt Nam gian dối và hèn. Họ bắt đạo, lấy đất của dân nghèo, của xóm đạo, bắt tù người biểu tình dân chủ, tham nhũng, bắt học và nhồi nhét lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng vô tội vạ. Mình đi dạy học nên biết cái Bộ gây ra nhiều tội lỗi và cái chết đau thương nhất không phải là Bộ Y Tế và Bộ Giao Thông mà là Bộ Giáo Dục được chỉ đạo bởi Bộ Chính Trị. Phải đi dạy học mới biết cái chương trình học của Bộ Giáo Dục nó ngu, nó nặng, nó nhuộm màu mị dân, nó dạy cho học trò làm nô lệ cho sách vở, nó đẩy học trò ra đường vì những đòn roi tư tưởng.
Mình càng không thích chính phủ Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc càng mất dạy và hay bắt nạt. Họ cũng thực hiện đủ các tội như trên nhưng ở mức độ ghê rợn và cao cấp hơn.
Mình hơi hơi có cảm tình với chính phủ Mỹ, có phần ngưỡng mộ nữa, nhất là anh Đen Obama. Tuy đôi lúc họ không thực lòng và rất thực dụng.

Vậy nên,nếu có chiến tranh, thực ra nên gọi là trò chơi quyền lực của các chính phủ, mình cũng sẽ tham gia…nhưng không phải cho cái Nhà Nước Việt Nam này, mà cho cái mạng mình và gia đình mình.
Mình mê nhất là chính phủ Thuỵ Sĩ vì chưa nghe thấy họ dính scandal gì ở đó, ở cái nước mà phô mai ngon nổi tiếng, sô cô la ngon (nghe đồn, chưa được thử), đồng mồ mắc, có vệ sĩ làm bảo vệ cho Đức Giáo Hoàng, thiên nhiên tươi đẹp. Hi vọng được đến Thuỵ Sĩ tị nạn 

Trong thời loạn lạc, mình chẳng tin ai, chắc chỉ tin vào Thuỵ Sĩ phô mai…

[Đánh giá sách] Ý tưởng này là của chúng mình

Mình mua sách và đọc sách dưới góc độ của một người hoàn toàn ngoại đạo với ngành quảng cáo: mình là giáo viên dạy Tiếng Anh. Thực sự cuốn sách không làm mình thất vọng khi mình chỉ mất một buổi tối đọc một lèo hết quyển sách. Thú vị nhất là có những điểm giống nhau đến kì lạ giữa nghề nghiệp của mình và những người làm quảng cáo: não của giáo viên và copywriter đều luôn hoạt động hết công suất; giáo viên và copywriter đều phải có óc quan sát cực tốt để biến những đều thú vị xảy ra chung quanh mình làm chất liệu cho bài giảng/TVC/print ad.
Nội dung cuốn sách mô tả chân tơ kẽ tóc những góc khuất và những điểm sáng của những anh hùng và của cả tội đồ ngành quảng cáo. Điều này vừa có lợi vừa có hại: một mặt, nó sẽ giúp những bạn mới tập tành vào nghề quảng cáo có thêm sự chuẩn bị, thêm nghị lực để theo đuổi đam mê tới cùng khi phải đối mặt với những thách thức trời ơi đất hỡi cũng như định hướng cho những người cứ nghĩ làm quảng cáo là ngồi mát ăn bát vàng; mặt khác, chính vì được miêu tả quá kỹ lưỡng nên cũng giống như “spoiler” một bộ phim, bạn được người ta kể vanh vách nội dung phim trước khi xem bộ phim ấy, còn gì là niềm vui trong công việc khi bạn đã mất hết đi sự ngạc nhiên và mới mẻ?
Tác giả là copywriter nên viết rất cứng tay và có giọng văn hấp dẫn. Tuy rằng nội dung chưa sắp xếp được một cách hợp lý và hệ thống cho lắm nhưng đủ để người đọc có một cái nhìn toàn cảnh không những về ngành quảng cáo mà tất cả mọi nghề nói chung.
Không chỉ dành riêng cho giới quảng cáo, đây là một cuốn sách đáng đọc cho các bạn học sinh trước ngưỡng cửa cuộc đời, các bạn sinh viên sắp đi làm, những người đã đi làm nhưng không hạnh phúc với công việc của mình. Cuốn sách thực sự khiến mình có cái nhìn đa chiều về mọi việc, sáng tạo cũng chỉ có ngưỡng và người làm sáng tạo cũng phải tuân theo những luật chơi rất không công bằng. Nó cũng khiến mình trở nên khiêm tốn hơn trước những “thành tựu” tự phong, và truyền cảm hứng cho mình cống hiến hơn cho con đường mình đã chọn.
Cám ơn Huỳnh Vinh Sơn và đồng bọn 🙂 đã đặt viên gạch đầu tiên cho tủ sách hướng nghiệp đúng nghĩa tại Việt Nam.

Điểm: 4.5/5

Bi kịch của một giáo viên

Mình đang dạy ở Việt Úc nhưng chắc chắn sau này mình sẽ không gởi con mình (tên là Mon) cho học ở Việt Úc!
Hãy cứ tưởng tượng nếu mình gởi con mình vào trường mình đang dạy. Trường sắp xếp cho mình dạy con mình, mình sẽ đóng một lúc 2 hai vai: vừa là thầy Mon ở trường vừa là phụ huynh, là ba Mon 
Mỗi khi Mon học mất tập trung trong lớp, thầy Mon đã tìm đủ mọi cách nhưng vẫn không bắt Mon ngồi yên được bèn viện đến cách cuối cùng: liên lạc với ba của Mon để cùng tìm cách giải quyết  Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam, họp phụ huynh học sinh chỉ có một người ngồi tự kỷ một mình 
Hoặc giả dụ thầy Mon không muốn làm việc với ba Mon mà muốn làm việc với mẹ Mon cho tế nhị (là vợ mình). Trong cuộc gặp gỡ ấy, phụ huynh của Mon (cũng là vợ thầy Mon) mắng thầy Mon một cách xối xả. “Thầy dạy kiểu gì mà con tôi không hiểu bài?” 
Tệ hơn, tình hình càng lúc càng căng thẳng, mọi chuyện vỡ lở khi mình phát hiện Mon học kém là do phương pháp của thầy Mon quá tệ, mình, trong vai trò là ba Mon, sẽ viết thư than phiền thầy Mon, cũng là mình, gởi cho ban giám hiệu. Nhà trường nhận được thư than phiền của phụ huynh là ba Mon sẽ lập tức làm việc với giáo viên của Mon, cũng là mình.
Cảnh cáo, nhắc nhở,cuối cùng đuổi việc thầy Mon do ba Mon tố cáo 
Mình đâu có ngu, nhất định mình sẽ không gởi con mình vào chỗ mình dạy để khỏi rơi vào tất tần tật các thứ bi kịch!

10527836_922100577816790_7523868335892124019_n